Hà Nội Thủ đô ngàn năm văn hiến

Tôi yêu Hà Nội

Thành Viên
30/9/19
55
13
8
27
Thành Viên
Văn hiến là gì?

Người đầu tiên nói tới văn hiến là Khổng Tử khi nói về nước Tống: “Tống bất túc trưng dã. Văn hiến cố dã. Túc tắc ngô năng trưng chi hỹ” (Nước Tống không đủ để bầy tỏ. Đó là tại văn hiến của nước ấy. Nếu đủ ta có thể đem bày tỏ ra được). Tuy nhiên ông không giải thích văn hiến là gì.

Từ điển Từ Hải - một pho tự điển rất giá trị của Trung Quốc đã định nghĩa văn hiến như sau: “Văn là kinh điển sách vở. Hiến là người hiền tài nhưng phải có bằng chứng rõ ràng. Vậy văn hiến là trình độ văn hóa của một xã hội đã tiến tới chỗ có những tác phẩm thành văn (không phải truyền khẩu) và có những nhân vật lịch sử có thể kiểm chứng”. Từ định nghĩa này có thể thấy văn hiến là nấc cao hơn văn hóa và văn minh. Nhưng khái niệm văn hiến xuất xứ từ Trung Hoa đã được dùng ở Việt Nam từ khi nào?

chua một cột Hà Nội.jpeg


Trong phần đầu bài “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi có câu:

Như nước Ðại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Đây là lần đầu tiên từ văn hiến được dùng trong sách ở Việt Nam. Nguyễn Trãi không dùng từ “vốn xưng” mà dùng từ “thực vi” (thực là). Từ “vốn xưng” là của nhà văn hóa Bùi Kỷ khi ông dịch ra chữ quốc ngữ với mục đích khẳng định bề dày văn hóa Việt Nam trước văn hóa Trung Quốc.

Nền tảng vững bền

Người Việt xưa khiêm tốn, không tự xưng dân tộc mình là văn hiến mà hai chữ này do chính vua nhà Minh của Trung Hoa tặng. Theo sách “Dư địa chí”, vua Trần Dụ Tông (1341-1269) sai Doãn Thuấn Thần đi sứ nhà Minh. Vua Minh đã khen phong tục, y phục của dân ta vẫn còn giống thời nhà Chu, nhà Tống, không theo nhà Nguyên, nhân đó ban cho mấy câu thơ:

An Nam tế hữu Trần

Phong tục bất Nguyên nhân

Y quan Chu chế độ

Lễ nhạc Tống quần thần.

(Dịch nghĩa:

An Nam có họ Trần

Phong tục không theo Nguyên

Áo mũ vẫn theo chế độ nhà Chu

Lễ nhạc vẫn hệt như vua tôi nhà Tống)

Sau đó vua nhà Minh tặng câu: “Duy ngã Đại Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang” và thăng địa vị cho sứ thần của Đại Việt lên trên sứ thần Triều Tiên ba cấp. Căn cứ vào định nghĩa trong từ điển Từ Hải thì trước đây chúng ta thường nói “Dân tộc Việt Nam 4.000 năm văn hiến” là không chính xác vì những nhân vật của họ Hồng Bàng đều nặng tính huyền thoại. Nguyên chuyện Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và 18 vua Hùng Vương trị vì 2.622 năm (từ 2879 đến 257 trước Công nguyên) thì trung bình mỗi vua cai trị 130 năm đã là điều không thể. Trong thời kỳ này, dân tộc ta cũng chưa có chữ viết dù là mượn của Trung Hoa. Vì vậy chưa thể có sách vở và không thể được coi là đã đạt tới trình độ văn hiến. Chứng tích chữ nghĩa sớm nhất mà Việt Nam còn giữ được là bài từ viết bằng chữ Hán của thiền sư Khuông Việt làm năm 986 theo lệnh vua Lê Đại Hành để đáp lễ và tiễn sứ thần nhà Tống là Lý Giác

Một bài từ hay như thế thì phải là kết quả của một quá trình viết lách đã có từ trước. Có thể tin rằng, dân tộc ta đã có văn và hiến trước thời gian sáng tác bài từ này rất lâu. Tuy nhiên, do không có di cảo nên chỉ có thể nói Việt Nam văn hiến từ năm bài thơ của thiền sư Khuông Việt. Vì Thăng Long là kinh đô của Đại Việt từ thời nhà Lý và liên tục cho đến khi nhà Nguyễn chuyển vào Huế nên nói “Thăng Long - Hà Nội nghìn năm văn hiến” là hoàn toàn đúng. Hơn nữa Thăng Long - Hà Nội xứng đáng như vậy.

Ho-hoan-kiem-ha-noi.jpg


Lịch sử ngàn năm văn hiến của đất Thăng Long - Hà Nội

Khởi nguồn khi Lý Công Uẩn - Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư vào thành Đại La năm 1010. Trong Chiếu dời Đô , Lý Thái Tổ từng nói: “Ở trung tâm cõi bờ đất nước, có cái thế rồng cuộn hổ ngồi, vị trí ở giữa bốn phương Đông Tây Nam Bắc, địa hình thế núi sông sau trước. Ở nơi đó địa thế rộng mà bằng phẳng, vùng đất cao mà sáng sủa, cư dân không khổ vì ngập lụt, muôn vật đều phì nhiêu tươi tốt. Xem khắp nước Việt ta chỗ ấy là nơi hơn cả, thực là chỗ bốn phương tụ hội, là nơi đô thành bậc nhất của Đế vương muôn đời!”. Mảnh đất “đô thành bậc nhất của Đế vương muôn đời” ấy được đặt tên là Thăng Long cũng bởi thế “rồng cuộn hổ ngồi”. Trải qua bao năm tháng cùng những thăng trầm bể dâu của nhiều triều đại, từ Lý, Trần đến Hồ, Lê, mảnh đất Thăng Long trở thành kinh đô bậc nhất của đất nước; đồng thời nơi đây cũng trở thành chứng nhân lịch sử quan trọng trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm phương Bắc.

Đất Thăng Long xưa nằm trong vùng tam giác châu thổ sông Hồng, có đất đai màu mỡ, trù phú; nơi đây đã sớm là một trung tâm chính trị và tôn giáo ngay từ những buổi đầu của lịch sử Việt Nam. Qua nhiều lần đổi tên, mảnh đất Thăng Long đã mang những tên gọi khác nhau, như: Long Phượng, Đông Đô, Đông Quan, Đông Kinh. Đến thời nhà Nguyễn, tên Hà Nội mới được khai sinh đặt cho vùng đất Thăng Long. Năm 1902, Hà Nội trở thành thủ đô của Liên bang Đông Dương và được người Pháp xây dựng, quy hoạch lại. Trải qua hai cuộc chiến tranh, Hà Nội là thủ đô của miền Bắc rồi nước Việt Nam thống nhất và giữ vai trò này cho tới ngày nay.
Tìm hiểu nét văn hóa ngàn năm của đất Thăng Long - Hà Nội cho thấy đây là nơi giao thoa của những nền văn hóa lớn. Những nét văn hóa thường được thể hiện qua ngôn ngữ, trang phục, truyền thống ẩm thực, những thú vui giải trí... Những thú vui tao nhã như: chơi hoa, trồng cây cảnh, nuôi chim... vẫn được giữ lại dù thành phố ngày nay đã trở nên chật chội. Trang phục của người Hà Nội, dẫu thay đổi nhiều theo thời gian, vẫn được xem là trang nhã và duyên dáng.
Trong nhịp sống hiện đại hôm nay, mảnh đất Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội vẫn còn rất bí ẩn và quyến rũ bởi những chứng tích lịch sử, những dấu ấn về con người qua truyền thuyết huyền thoại, di tích lịch sử, những khu phố, ngôi nhà cổ, tường thành xưa, đường phố cũ…
Lịch sử lâu đời cùng nền văn hóa phong phú đã giúp Hà Nội có được kiến trúc đa dạng và mang dấu ấn riêng. Kiến trúc cổ Hà Nội gợi lên một nền văn minh tinh thần, một nếp sống văn hóa gia đình trong những đường nét ấm nóng hơi thở của nhiều thế hệ. Khu phố cổ Hà Nội vẫn là khu vực đông đúc nhất. Qua nhiều năm, những cư dân sinh sống nhờ các nghề thủ công, buôn bán tiểu thương đã hình thành những con phố nghề đặc trưng mang những cái tên như: Hàng Bạc, Hàng Ngang, Hàng Đường, Hàng Đồng, Thuốc Bắc...

Bề dày lịch sử cũng khiến Thăng Long trở thành một vùng đất đầy hấp dẫn về du lịch, với những địa danh lịch sử - văn hóa nổi tiếng như Hoàng thành Thăng Long, quần thể Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Tháp Rùa - Đền Ngọc Sơn, chùa Một Cột, Thăng Long Tứ trấn, thành Cổ Loa... Du khách cũng sẽ rất thích thú khi được dạo quanh khu phố cổ sầm uất hay những ngỏ phố nhỏ cổ kính trầm mặc bằng xích lô. Đây còn là mảnh đất nổi tiếng với những làng nghề truyền thống, những sản phẩm thủ công tinh xảo, như: gốm Bát Tràng, lụa La Khê, đồ đồng Ngũ Xã, sơn mài Hà Thái... cùng những làng hoa, cây cảnh nổi tiếng như: Nhật Tân, Quảng Bá, Nghi Tàm. Một số di tích của Hà Nội như: Hoàng thành Thăng Long, văn bia tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám và Lễ hội Thánh Gióng đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.​
Là trung tâm văn hóa của cả miền Bắc từ nhiều thế kỷ, tại Hà Nội có thể tìm thấy và thưởng thức những món ăn của nhiều vùng đất khác nhưng vẫn có những món ăn mang nét riêng biệt, đậm “hồn cốt Hà Nội”, như: cốm làng Vòng, phở Hà Nội, chả cá Lã Vọng, bánh tôm Hồ Tây...
Mảnh đất Thăng Long xưa và Hà Nội nay vẫn giữ được vai trò “là nơi đô thành bậc nhất” với sự phát triển mạnh mẽ cả về diện tích và số dân. Nếu như thời điểm 60 năm trước, khi về tiếp quản, thủ đô Hà Nội gồm 4 quận nội thành với 34 khu phố, 37.000 dân và 4 quận ngoại thành với 45 xã, 16.000 dân thì đến tháng 8 năm 2008 sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, Hà Nội có diện tích 3.344,7km², gồm một thị xã, 10 quận và 18 huyện ngoại thành. Với diện tích trên ba ngàn cây số vuông và số dân hiện nay khoảng hơn 6,4 triệu người, Hà Nội trở thành một trong 17 thủ đô lớn nhất thế giới.

sưu tầm
 
  • Like
Reactions: Bichkhoa shop
Shoutbox
Đăng nhập để sử dụng ChatBox
  1. No shouts have been posted yet.

Top Poster

Thành viên trực tuyến

Không có thành viên trực tuyến.